Một số mô hình quản trị thương hiệu - Phần 1

Đăng ngày : 26/04/2011 | 153 lượt xem

Bài viết này giới thiệu khái quát một số mô hình quản trị thương hiệu đã được kiểm chứng qua thực tế quản trị, đào tạo và tư vấn.

  1. Mô hình Kéo và Đẩy
  2. Mô hình Chiến lược P3 & P4
  3. Mô hình N.I.P
  4. Mô hình Chiến lược 7P
  5. Mô hình Định vị Đa Sản Phẩm
  6. Mô hình Phẫu Hình ảnh Thương hiệu
  7. Mô hình Brand Audit – Đánh giá Thương hiệu
  8. Mô hình Tư duy Marketing
  9. Mô hình Song hành Innovation
  10. Mô hình Thương hiệu Chuỗi Sản phẩm

Quản trị Thương hiệu là một phân ngành cao cấp của marketing hiện đại. Cho đến nay các chương trình đào tạo bậc đại học và sau đại học vẫn đang tiến hành cập nhật hệ thống lý thuyết và phương pháp luận vốn được các tập đoàn thương hiệu đa-quốc –gia nghiên cứu áp dụng thành công.

Quản trị Thương hiệu tích hợp đầu cuối những hệ thống quản trị chất lượng, quản trị marketing, quản trị sáng tạo thương hiệu (brand creative) và đột phá marketing (marketing innovation), quản trị hệ thống cung ứng (supply chain) và hệ thống phân phối (kể cả hậu cần), quản trị hệ thống thông tin marketing (MMIS) và hệ thống thông tin tích hợp (ERP).

Như vậy có thể thấy Quản trị Thương hiệu nhìn chung có tính phổ quát và toàn diện hơn nhiều so với nhận thức của phần lớn nhà doanh nghiệp Việt Nam hiện nay vốn đa phần vẫn còn nhầm lẫn thương hiệu (brand) với nhãn hiệu (trade-mark); hoặc là sự thiên lệch của giới quảng cáo truyền thông chỉ xét dưới góc độ xây dựng hình ảnh thương hiệu bên ngoài (yếu tố P4 trong ít nhất là 4P, hoặc 7P như mô hình quản trị do chuyên gia đề xướng).

Vì vậy trong bài viết này sau khi bỏ qua một chút do dự về tính chất khác biệt của vấn đề đã nêu so với thực tế Việt Nam ngoại trừ một số ít doanh nghiệp thương hiệu mạnh đúng nghĩa, tác giả mạnh dạn khẳng định rằng phần đông doanh nghiệp Việt Nam chưa nắm bắt những hệ thống quản trị thương hiệu toàn diện như là một bộ xương sống chiến lược và tổ chức doanh nghiệp mình, như mô hình so sánh sau đây giữa hai luồng tư duy chiến lược cũ và tư duy chiến lược thương hiệu đích thực thông qua một cấu trúc so sánh do Interbrand đề xướng như sau (hình minh họa của Interbrand):

Brand Strategy trong tư duy cũ là một vị trí chức năng đứng phiá sau Marketing, còn trong quan điểm mới thì Brand Strategy đứng ở vị trí cơ bản và trung tâm và chi phối tất cả các chức năng khác. Điều này đã được chức minh qua thực tế của các đại thương hiệu hàng đầu thế giới trong đó việc quản trị thương hiệu được quyền lãnh đạo các chức năng quản trị khác.

interbrand

Để có được tư duy này trước tiên độc giả phải tái định nghĩa cho đúng ‘thương hiệu bao gồm cả sản phẩm’ chứ không phải ‘thương hiệu là một bộ phận của sản phẩm’.

(1) Mô hình Kéo và Đẩy

Một khi đã xác định thương hiệu kà yếu tố chiến lược và yếu tố trung tâm, mô hình Kéo và Đẩy xác lập trước tiên lầy thương hiệu (sản phẩm) làm trọng tâm, Lực Kéo nằm bên trái và Lức Đẩy nằm bên phải, cả hai cùng tác động vào thương hiệu tạo ra số vòng luân chuyển cao.

Lực Kéo tạo ra do những nỗ lực marketing above-the-line (quảng bá hình ảnh) nhắm đến công chúng và người tiêu dùng, hay nói cách khác số người tiêu dùng kỳ vọng đạt được càng lớn thì lực kéo của một thương hiệu (sản phẩm) càng lớn; Lực Đẩy tạo ra do cách nỗ lực marketing below-the-line (thúc đẩy phân phối & bán hàng) nhắm đến người bán (the trade) thông qua nhiều hoạt động phát triển phân phối, bán lẻ, trưng bày và nhiều hoạt động marketing khác ngay tại điểm bán hàng từ đó tạo ra Lực Đẩy.

(2) Mô hình chiến lược P3 & P4

Tương ứng với Mô hình Kéo và Đẩy là mô hình tư duy chiến lược P3 & P4 trong đó P4 (trong 4P) mang ý nghĩa xây dựng quảng bá thương hiệu (sản phẩm) đồng thời P3 mang ý nghĩa phát triển Phân phối và thúc đẩy bán hàng. Nói tóm lại P3 tương xứng với Lực Đẩy và P4 tương xứng với Lực Kéo.

Tư duy chiến lược P3 & P4 ngoài vấn đề giải thích ý nghĩa sâu sắc của mô hình Kéo và Đẩy trong quản trị thương hiệu, đây còn là tư duy nâng tầm kinh tế vĩ mô, đó là sự thay đổi về tư duy kinh tế từ gia công sang chiến lược làm chủ thông qua hai nhóm giải pháp thương hiệu (sản phẩm hoàn chỉnh, sản phẩm đầu cuối) và nhóm giải pháp phân phối đến tay người tiêu dùng và liên tục theo dõi quá trình bàn hàng và chăm sóc khách hàng.

Các Quốc Gia phát triển, mà cụ thể là những thương hiệu cao cấp hàng đầu khi phát triển mô hình định hướng P3 & P4 (là cách gọi riêng của chuyên gia) thì sử dụng một mỹ từ là ‘sự phân công lao động quốc tế’ cho rằng các nước nghèo (thế giới thứ ba) chỉ nên tham gia sản xuất gia công với giá rẻ (P1&P2) còn các tập đoàn này tập trung vào những phân khúc thặng dư cao (80% trong chuỗi giá trị) và hưởng lợi.

Chính tổ chức Oxfam trong tư tưởng Fairtrade đã chỉ ra sự bất công này và kêu gọi chính các tập đoàn giàu có hãy chia sẻ bớt quyền lợi cho người nông dân ở các nước nghèo. Từ cách đây 10 năm chúng ta đã nhận rõ vấn đề này, các chuyên gia vhúng tôi cũng bên bỉ tuyên truyền, tác giả đã có những bài viết trên các báo kinh tế, trong đó một bài viết với cái tên khá ấn tượng là “Chiến lược Gia công, Nỗi đau nhược tiểu” đăng trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn.

(3) Mô hình N.I.P

Mô hình này đơn giản là sự kết hợp Ba mô hình thành phần, trong đó N. chính là Tháp Nhu cầu của Abraham Maslow rất nổi tiếng mà ai cũng biết; kế đến I.  là mô hình tháp Thu nhập trong demographic gồm 5 nấc thu nhập tiêu biểu tính bằng A,B,C,D và E/F.

Trong mô hình N.I.P. sau khi phân tích khách hàng (và thị trường) dựa trên hai nhóm yếu tố cơ sở là Needs và Incomes chúng ta thiết lập cơ sở định vị sản phẩm (và thương hiệu) thông qua mô thức định nghĩa sản phẩm 5 bậc day trên tỷ trọng % lợi ích (hay giá trị kỳ vọng) của Lý tính và Cảm tính, từ đó thiết lập nên giải pháp thể hiện qua sản phẩm & thương hiệu. Mô thức NIP không chỉ giúp sáng tạo khả thi về một sản phẩm hay thương hiệu dơn lẻ, mà nó còn xác lập một tổ hợp đa sản phẩm nhắm vào những nấc phân khúc khác nhau của khách hàng và thị trường.

mo-hinh-NIP

Mô hình NIP còn giúp giải quyết được phân tích ngân sách đầu tư quảng bá thương hiệu day trên tỷ lệ phân trăm giá trị cảm tính hiện hữu khác nhau theo chủng loại sản phẩm và phân khúc khách hàng theo chiều dọc.

Chẳng hạn một quy định về tài chính của chính phủ giới hạn % chi quảng cáo (% theo tổng mức doanh thu của doanh nghiệp) là không có cơ sở khoa học vì mỗi  ngành nghề có đặc thù Lý tinh & Cảm tính khác nhau và tỷ lệ % quảng cáo trung bình cũng theo đó mà khác nhau. Điều này lý thuyết Kinh tế Vĩ mô khó mà giải thích được.

(4) Mô hình Chiến lược 7P

Chuyên gia thương hiệu Võ Văn đã nghiên cứu đúc kết mô hình 7P Marketing trong vòng 5 năm (1999-2004) và kiểm chứng thực tế cho đến thời gian gần đây thông qua thực tế quản trị, tư vấn và đào tạo doanh nghiệp.

Nhờ tính chất đa nấc và tính tích hợp, mô hình 7P Marketing rất hữu ích từ việc đưa ra chiến lược toàn diện, xác lập bộ máy tổ chức, phân cấp quản lý và xây dựng văn hoá doanh nghiệp. Trong đó yếu tố thương hiệu được thiết lập xuyên suốt trong 3 nấc, nấc 1 là nhóm 4P định hướng thị trường, nấc 2 (P5 & P6) là nấc quản trị, và nấc 3 (P7) là tầm nhìn và triết lý doanh nghiệp hay tổ chức.

Ngoài ra trong những chương trình đào tạo và tư vấn doanh nghiệp thời gian gần đây, chúng tôi còn xây dựng mô hình 7P theo mô thức đánh giá (marketing audit) đối với một doanh nghiệp hay môt đơn thể thương hiệu.

mo-hinh-7p_copy

(5) Mô hình Định vị Đa-Sản-phẩm

Một chiến lược doanh nghiệp thành công ngày nay không bao giờ day trên một sản phẩm đơn lẻ. Ngay cả một doanh nghiệp tưởng chừng như đơn ngành (vd: Công ty SJC chẳng hạn) trong thời điểm khủng hoảng thị trường vàng bối cảnh hiện nay (3-2011) cũng phải nhanh chóng mở rộng thêm lĩnh vực chế tác & kinh doanh trang sức, một ngành vốn chỉ chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong cấu trúc doanh số SJC nhiều năm qua.

Trong cấu trúc sản phẩm của một hãng xe hơi chẳng hạn chúng ta nhận thấy rõ một cơ cấu định vị rất đầy đủ theo cả 2 hướng, hướng dọc day theo nấc giá và hướng ngang dựa theo công dụng, sở thích cảm tính từ khách hàng…

Từ một ‘ma trận’ tổ hợp 2 chiều này chúng ta thiết lập về nguyên lý thấy được một tổ hợp định vị đa sản phẩm rất đầy đủ, từ đó tiếp tục phân tích cạnh tranh và tiềm năng (potentiality) để chọn lọc một tổ hợp định vị đa sản phẩm cho phù hợp để hình thành cái thường gọi là kiến trúc thương hiệu (một mỹ từ) hay là một tổ hợp sản phẩm (product/brand portfolio) mang tính tối ưu và khả thi.

the-mutil-brand

Trong ví dụ trên đây về thị trường xe hơi, ngay tại Việt Nam Toyota đã khai thác tốt các phân khúc khác nhau theo chiều dọc của sedan và dẫn đầu dòng MPV bởi Innova, trong khi tại Mỹ hãng Ford rất chú trọng khai thác sản phẩm SUV (xe hơi tính năng thể thao) bằng một tổ hợp 3 nấc của dòng SUV là Ford Escape < Ford Explorer và < Ford Expedition.

Mô hình định vị đa-sản-phẩm theo hai chiều cơ bản rất phổ biến trong thực tế quản trị chiến lược thương hiệu nhờ tính khái quát cao và day trên lý nhu cầu đa dạng của khách hàng khai thác nguyên lý cơ bản về định nghĩa/định vị sản phẩm trên quan điểm khách hàng. Vì thế quy vị có thể ứng dụng mô hình này trong tất cả các lĩnh vực ‘sản phẩm đầu cuối’ (end-product, consumer product).

Còn nữa...

Theo chuyên gia thương hiệu Võ Văn Quang- AMICA sưu tầm.


Các tin khác

Chiến lược cạnh tranh
MASAN đưa nước mắm sang Thái Lan

Nước mắm Chin-Su Yod Thong của Masan đã có mặt tại hệ thống quán ăn, cửa hàng bán lẻ xứ sở chùa vàng, là bước đi đầu tiên của doanh nghiệp trong hành trình tiếp cận thị trường ASEAN.

Đọc thêm >>
Phát triển thương hiệu
Khi Trung Nguyên "tách" quyền

Trong 4 mảng chính của thị trường cà phê, ông Đặng Lê Nguyên Vũ sẽ thể hiện quyền lực “vua cà phê” như thế nào trong thời gian tới?

Đọc thêm >>
Quản trị nhân sự
Nghề sales: 'Blacklist' của cử nhân, xuất phát điểm của lãnh đạo

Với riêng nghề sales, quan trọng là bạn can đảm bỏ ngoài tai dư luận và theo đuổi hướng đi mình đã chọn, kiên nhẫn để không nản chí trước những lời từ chối dồn dập từ phía khách hàng.

Đọc thêm >>